Video menu :

Duyệt theo thứ tự từ trên xuống :
- 3 dòng đầu gồm Open Video…, Close Video, Recent list. Về phần này thì quá đơn giản nên tui sẽ ko nói thêm gì nữa.
- 3 dòng tiếp theo liên quan đến timecodes file, cũng bao gồm Open, Close và Recent list. Aegisub hỗ trợ cả timecodes v1 và v2 lưu dưới dạng file txt. Nếu bạn có ý định hardsub VFR thì bạn sẽ cần sử dụng tới cái này.
- Jump To : Nhảy tới vị trí được chỉ định trong video theo frame hoặc thời gian (chính xác tới centisecond). Bạn có thể dùng nút mũi tên màu xanh lá trên thanh phía dưới hoặc bấm Ctrl G thay vì phải vào menu này.
- Tiếp theo là 3 tùy chọn Zoom : 50%, 100%, 200%. Thường thì theo tôi bạn sử dụng drop-down box đã nói ở trên tiện lợi hơn.
- Các lệnh làm việc với cả sub và video : Như bạn thấy trong hình thì có tổng cộng 6 lệnh. Thay vì vào menu bạn có thể bấm vào nút trên thanh công cụ nằm phía dưới hoặc nhanh nhất là ấn phím Ctrl 1-6. Khi sử dụng các lệnh này, muốn chính xác thì tôi khuyên bạn chỉ nên dùng file AVI CFR chứ ko sử dụng file load bằng DirectShow hay file 120fps vì tính ko chính xác khi seeking của nó.
Jump video to start : Nhảy đến frame nằm ở đầu line
Jump video to end : Nhảy tới frame nằm ở cuối line
Snap start to video : Đặt lại start time của line cho trùng với frame hiện tại (rất hay dùng)
Snap end to video : Đặt lại end time của line cho trùng với frame hiện tại (như trên)
Snap to scene : Aegisub sẽ đặt lại start time và end time cho vừa với scene, tính theo 2 keyframe lân cận. Chức năng này đôi khi khá hữu ích.
Shift to current frame : Shift line lại cho start time trùng với frame hiện tại, trong khi vẫn bảo toàn được độ dài line do end time cũng được shift đi 1 khoảng tương ứng.
- Override aspect ratio (5 lệnh sau cùng) : Thay đổi lại aspect ratio. Bình thường thì nên để nguyên. Bạn chỉ cần quan tâm đến các lệnh sau khi làm việc với anamorphic video (loại video mà aspect ratio thực ko giống với aspect ratio lúc play, có thể tự co giãn cho hợp với độ phân giải màn hình). Trừ lệnh cuối cùng ra, 3 lệnh kia sẽ làm thay đổi width chứ ko phải height. Nếu bạn muốn chỉ định 1 aspect ratio trong phần Custom thì có 3 cách : ghi theo tỉ lệ (vd 4

), điền số thực (vd : 2.35 2.35:1), ghi theo độ phân giải (vd : 853x480). Chú ý là sub sẽ được apply trước rồi video mới resize nên ko lo bị sai lệch về tỉ lệ giữa sub và video.
Positioning :

Khi di chuyển chuột lúc ko play video, bạn sẽ thấy 1 dấu dài hình chữ thập có đề tọa độ bên cạnh. Cái này ko thể ko chú ý vì bạn sẽ rất cần tọa độ để điền vào những tag cần tọa độ như \move(), \pos(), hay tag drawing.
Chú ý :
- Double click sẽ add thêm tag \pos() vào line hiện tại với tọa độ mà bạn click. Tọa độ đó sẽ là tọa độ tâm (origin) của line được set khi styling. Cái này tui sẽ nói sau.
- Trong video thì chiều dương của trục x là trái qua phải, y là từ trên xuống dưới. Mặc định thì gốc tọa độ nằm ở góc trên bên trái. Nếu bạn bấm giữ Shift trong khi di chuyển chuột thì gốc tọa độ sẽ được dời về góc dưới bên phải. Điều này sẽ có lợi cho bạn trong nhiều trường hợp. Nhớ là khi bấm thì bạn chưa thể thấy được thay đổi, mà phải đến khi di chuột mới thấy được.
Typesetting :
Sub anime ko giống với sub movie, vì có rất nhiều chi tiết cần chú thích, cũng như làm sao cho sub đẹp, hợp với video và dễ theo dõi. Đó chính là nhiệm vụ của styler.
Cách thức phổ biến nhất để diễn đạt các đoạn đối thoại giữa các nhân vật là sử dụng 2 style, 1 cái chính và 1 cái alternative. Cái thứ 2 sẽ sử dụng khi lời thoại của 2 nhân vật có 1 khoảng trùng nhau. 2 style này khác màu nhưng phải cùng font để đồng bộ.
Cách thứ 2 là sử dụng nhiều style (còn gọi là multicolor subtitles). Cách này thường được tận dụng khi số nhân vật quan trọng ko quá nhiều (khoảng 10 trở xuống), vd : Air. Còn với những bộ mà số lượng nhân vật nhiều, trong khi hầu hết đều quan trọng (như School Rumble) thì ko nên lạm dụng. 1 vd về dạng mulicolor này có thể xem ở hình dưới :

Style manager :
Aegisub cung cấp 1 công cụ rất tiện lợi để quản lý và edit style là Style Manager. Muốn mở nó, bạn chỉ cần vào Tools>Style Manager hoặc bấm vào nút có hình chữ S màu hồng trên thanh công cụ.

Để quản lý, lưu trữ style thì Aegisub có 1 database gọi là catalog, trong đó phân ra các storages. Mỗi storage sẽ lưu trữ những style nhất định mà bạn sẽ cần sử dụng thường xuyên. Để tạo ra 1 storage mới, bạn chỉ cần ấn vào nút New ở phía trên. Để xóa thì bạn ấn nút Delete. Bạn có thể copy style qua lại giữa storage và current script, xóa bớt hoặc tạo style mới. Copy và Delete thì ko cần giải thích gì thêm. Ở đây tôi chỉ giải thích về edit và tạo style mới.

Khi bạn tạo 1 style mới bằng nút New, hoặc edit 1 style bằng cách double click vào style đó thì Style Editor sẽ hiện ra. Đây là chỗ để bạn điều chỉnh lại style cho hợp với video.
Chữ để trong ngoặc vuông là phần code sẽ được sử dụng trong các ASS override tags sẽ nhắc tới trong phần tiếp theo của typesetting.
Style name : Tên style. Nên đặt tên sao cho dễ quản lý, dễ nhớ và tiện cho công việc. Các style ko được trùng tên nhau.
Fontname & fontsize : Tên font được sử dụng [\fn] và size của nó [\fs], phía dưới là các tham số khác như Bold ([\b1][\b0]), Italic ([\i1][\i0]), Underline ([\u1][\u0]), Strikeout ([\s1][\s0])
Color : Màu của các thành phần thuộc style [\c&H&]. Theo thứ tự thì 1 là primary (màu nền của sub), 2 là secondary (chỉ dùng trong default karaoke effect, chữ sẽ chuyển từ màu này sang primary), 3 là outline (màu viền), 4 là shadow (màu của bóng). Chú ý là màu sắc trong ASS override tags sử dụng là BBGGRR chứ ko phải RRGGBB như trong các tag HTML nên cần chú ý chuyển lại sau khi pick color bằng 1 trình khác.
Transparency : Nằm ngay dưới phần color là transparency (độ trong suốt) [\<1/2/3/4>a&H&], tính từ 0 (đặc) cho đến 255 (trong tối đa, ko nhìn thấy). Kết hợp các chỉ số này cùng với màu đúng mức sẽ giúp style của bạn trông phù hợp nhất.
Margins : Biên của line, với 3 tham số left (khoảng cách tới cạnh trái của video), right (khoảng cách tới cạnh phải); vertical (khoảng cách tới biên trên hoặc dưới tùy theo alignment của line, áp dụng với [\an]. Với 1, 2, 3 thì tính theo biên phía trên. Còn 7, 8, 9 thì tính theo biên phía dưới.
Alignment : [\an] Align sub. Con số sau chữ an từ 1..9, ghi theo số ở khung numpad trên bàn phím với vị trí, origin và căn lề như sau :
1. Góc trên bên trái, căn trái
2. Phía trên, ở giữa, căn giữa
3. Góc trên bên phải, căn phải
4. Giữa, bên trái, căn trái
5. Ngay tâm đối xứng của video, căn giữa
6. Giữa, bên phải, căn phải
7. Góc dưới bên trái, căn trái
8. Phía dưới, ở giữa, căn giữa
9. Góc dưới bên phải, căn phải
Việc căn này có theo đúng ý bạn hay ko còn phụ thuộc vào line breaking và chế độ word wrap (sẽ nói sau).
Outline và Shadow : Outline [\bord] để thiết lập độ dày viền (border) theo pixels. Shadow [\shad] để thiết lập độ dời của shadow so với phần sub chính (cũng theo pixel)
Opaque box : Đánh dấu cái này sẽ làm xuất hiện 1 hình chữ nhật đặc quanh mỗi line với màu nền là màu outline. Chỉ dùng cái này khi bạn muốn thiết lập như là mask để kiểm tra. Đừng sử dụng nó trong style vì nó chỉ làm sub xấu đi mà thôi.
Scale X/Scale Y : [\fscx] & [\fscy] dùng để scale font theo chiều X hoặc Y. Bạn có thể set sẵn theo style nếu thấy ổn. Tuy nhiên theo tôi thì thường nên chọn đúng font rồi để nguyên 100%. Còn việc scale lại thì tùy trường hợp mà nhét vô ASS tag sẽ hay hơn.
Angle : Góc quay tính theo trục z [\frz]. Thông thường thì bạn ko cần sửa lại mà cứ để nguyên.
Spacing : Khoảng cách giữa 2 chữ liền kề nhau [\fsp] tính theo pixels. Giá trị dương là tăng lên, âm là co lại. Khi gặp các font mà khoảng cách các ký tự khá lớn thì điều này có thể giúp ích khá nhiều. Tuy nhiên với tiếng Việt có dấu thì khi sử dụng cần cẩn thận vì nó sẽ kéo dấu lệch đi. Chú ý là giá trị âm chỉ có tác dụng với ASS tag, còn set trực tiếp trong style editor ko ảnh hưởng.
Character Encoding : Có thể thiết lập character encoding lại [\fe]. VD : 0=ANSI, 1=Default, 128=Japanese, 163=Vietnamese. Tuy nhiên theo tôi thì ko nên động vào mà cứ để nguyên như mặc định.
Chú ý : Khi ấn nút OK thì toàn bộ thay đổi của bạn sẽ được thực hiện và trở về Style Manager. Tuy nhiên thường thì bạn sẽ muốn kiểm tra thay đổi chứ ko muốn mất công vô lại để điều chỉnh nên việc sử dụng nút Apply để test rất có ích. Style Manager và Style Editor kéo ra sao cho nhìn thấy được video và sub. Trước đó thì kéo đến đoạn sub mà bạn muốn kiểm tra. Mỗi thay đổi trong style editor đều có thể kiểm tra lại sau khi ấn Apply. Nếu chưa vừa ý thì tiếp tục sửa và preview như vậy. Xong hết rồi hẵng ấn OK.
Chọn font : Việc chọn font hoàn toàn ko đơn giản nên tôi sẽ dành hẳn 1 mục để nói về điều này.

Về fontsize thì ko cần nói nhiều. Thường thì font Arial cỡ 40 hoặc các font khác với kích thước tương ứng là vừa đủ để để nhìn. Sub ko to quá mà cũng ko nhỏ quá.
Về font style thì tùy theo font. Các font chuẩn sẽ có đủ cả 4 style : Regular, Bold, Italic, Bold Italic. Tuy nhiên rất nhiều font bị khuyết mất một số style nhất định. Tùy theo yêu cầu mà styler sẽ chọn sao cho hợp lý.
Trong khung effect thì chỉ có Underline là có tác dụng, còn lại chỉ giúp bạn preview trong khung Sample. Tốt nhất bạn nên chọn các option trong Style Editor để chỉnh.